Wednesday, April 6, 2016

Y KHOA ỨNG HỢP CÁ NHÂN



Y Khoa Ứng Hợp Cá Nhân (Personalized Medicine) đang cách mạng nền Y tế Hoa Kỳ:
Những điều chúng ta cần biết hôm nay



Soạn: Phạm Hiếu Liêm, MD
Former Jackson T. Stephens Professor
Vice-Chairman of the Donald W. Reynolds Department of Geriatrics, UAMS

Hi
ệu đính: Lê Văn Thu, MD
Certified Medical Translator


Gần đây trên mạng có hai tin tức rất quan trọng về y khoa nhưng không được nhiều người để ý và phổ biến.

Mẩu tin thứ nhất là một bà lão 90 tuổi bị chứng ung thư phổi rất nặng, đã đến thời kỳ 4 khi được chẩn đoán vào năm 2012. May thay, các bác sĩ tại Viện Ung thư Winthrop Rockefeller, thuộc trường Y khoa University of Arkansas for Medical Sciences (UAMS), thử gen (gen, gốc Hy Lạp, phát âm gien) của bướu và tìm ra rằng tuy bà cụ không hút thuốc lá nhưng có gen đột biến (mutation) dạng ROS1 gây ra ung thư phổi, và có thể chữa được với thuốc Crizotinib. Thế là bà cụ, dù lúc ấy đã hơn 90 tuổi bị ung thư nặng, vẫn được chữa bằng phương pháp điều trị ứng hợp cá nhân (personalized medicine) với chỉ một thứ thuốc kể trên. Các bác sĩ đã không cần giải phẫu (surgery) hay xạ trị (radiotherapy), mà cũng không dùng các hỗn hợp hoá trị (chemotherapy) vì cơ thể ở tuổi bà không thể nào chịu đựng được. Hai năm sau, ở tuổi 92, bà hoàn toàn khoẻ mạnh và khối bướu trong phổi đã biến mất. Đây là một trường hợp vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Y học.

<
http://www.uamshealth.com/news/?id=5350&sid=1&nid=10394&cid=5>

Trước đây, một khi bác sĩ định ra bệnh một loại ung thư phổi thì tất cả bệnh nhân có cùng loại và cùng thời kỳ sẽ được chữa trị giống nhau với nhiều phản ứng phụ mà lại ít công hiệu đưa đến tử vong cao.

Mẩu tin thứ hai xuất hiện trên ‘time.com’ hồi đầu tháng Giêng năm 2015. Các nhà khảo cứu tại bệnh viện Johns Hopkins đã chứng tỏ rằng hai phần ba (66%) ung thư của loài người là do đột biến ngẫu nhiên không may (unlucky random mutation) của tế bào gốc (stem cell) nên càng sống lâu thì càng dễ bị ung thư; tương tự như việc gặp tai nạn khi lái xe: càng lái nhiều thì tỷ lệ gặp tai nạn càng tăng. Môi trường, độc tố và di truyền chỉ là phần nhỏ trong việc gây ra ung thư. Gen đột biến là lý do chính và ngoài tầm kiểm soát của con người.

<
http://time.com/3650194/most-cancer-is-beyond-your-control-breakthrough-study-finds/>

Từ khi Chương trình Giải mã Hệ Gen của loài người (Human Genome Project) được hoàn tất tại Viện Y học Quốc gia (National Institute of Health) Hoa Kỳ năm 2003 mang đến sự phát triển của Khoa Hệ Gen học (ck Khoa học về Hệ Gen), hai mẩu tin trên báo hiệu cho chúng ta là giai đoạn Y khoa Ứng hợp Cá nhân dựa trên Khoa Hệ Gen học đã đến và sẽ cách mạng hoá y khoa, bắt đầu với ngành ung bướu (oncology) rồi đến các ngành khác như nhi khoa (pediatrics), thần kinh tâm trí (tâm thần học, psychiatry), dược khoa trị liệu (pharmacotherapy) và tất cả các chuyên khoa khác trong y học. Cuộc cách mạng này mang nhiều hứa hẹn tốt cho sức khoẻ của nhân loại.

Tóm lược lịch sử y khoa từ Thượng Cổ đến Hiện Đại:

Từ thời Thượng Cổ và Tiền Sử, mỗi bộ lạc đều có pháp sư, phù thủy dùng pháp thuật, nghi lễ và thảo mộc để trị bệnh. Sang thời canh nông và có chữ viết, các nền văn minh cổ của nhân loại đều có một nền y khoa riêng để phục vụ nhu cầu y tế trong xã hội. Y khoa phát triển hoặc trì trệ đồng nhịp với sự tiến hay thoái của các nền văn minh trong lịch sử như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Trung Hoa, Ả Rập và Âu châu Phục hưng. Mặc dù ở địa điểm và niên đại khác nhau, các nền y khoa nói trên có cùng nguyên tắc là quan sát (observation), thực nghiệm (experience) và truyền thống (tradition).

Y khoa truyền thống (traditional medicine) mặc dù hữu ích cho nhu cầu y tế của dân chúng nhưng không có căn bản để tiến bộ nên thường dẫn đến tắc nghẽn rồi từ từ suy thoái qua nhiều thế hệ. Thời Phục hưng ở Âu châu mang đến tiến bộ trên nhiều phương diện kỹ thuật cũng như nghệ thuật, và một ngành học mới làm thay đổi đời sống của loài người từ sau thời canh nông: Khoa học thực nghiệm với các môn hoá học (chemistry), vật lý (physics), sinh vật học (biology), sinh lý học (physiology), v.v.. Các tiến bộ này dẫn đến cuộc Cách mạng Kỹ nghệ tại Âu châu và Bắc Mỹ vào thế kỷ thứ 19.

Claude Bernard xuất bản cuốn “Lược dẫn về môn Y khoa Thực nghiệm” (Introduction to the Study of Experimental Medicine) năm 1865 đánh dấu sự thay đổi quan trọng của ngành y tại các cường quốc kỹ nghệ Âu châu đương thời: từ y khoa truyền thống sang y khoa với khoa học thực nghiệm.  Y học thực nghiệm Âu châu dẫn tới nhiều khám phá khoa học quan trọng như vi trùng học (microbiology) với các vĩ nhân như Pasteur và Koch cùng các môn đệ đã giúp tìm ra cách chữa và phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng, cứu sống vô số mạng người và dẹp bỏ được các dị đoan còn sót lại từ y khoa truyền thống ngày trước. Dân chúng Âu châu lúc ấy có hệ thống y tế với chất lượng cao nhất thế giới.

Ở Á châu, Nhật cũng cải cách theo y khoa thực nghiệm trong thời Minh Trị Canh Tân và do đó có bộ môn vi trùng học tân tiến với ảnh hưởng của Koch. Trung Hoa cũng bắt đầu cải cách y khoa sau Cách mạng Tân Hợi (1911) vì người cầm đầu cách mạng, Tôn Văn, cũng là một y khoa bác sĩ từ Hawaii. Việt Nam lúc ấy là thuộc địa Đông Dương của Pháp nên được người Pháp đem nền tây y thực nghiệm vào giúp mở mang hệ thống y tế cho người bản xứ. Vài đệ tử cuả Pasteur đã đến Việt Nam: đặc biệt nhất là Yersin đã chọn nước ta làm quê hương thứ hai cho ông. Trường Y khoa Hà Nội, và sau 1954 là Y khoa Sài Gòn, dưới sự lãnh đạo của Giáo sư Huard và các môn đệ người Việt đã đạt tiêu chuẩn khoa học tương đương với các trường ở Pháp. Các Giáo sư Thạc sĩ (professeur agrégé, tenured professor) Y khoa Pháp gốc Việt đã điều hành và giảng dạy tại trường Y khoa Sài Gòn trong suốt hậu bán thế kỷ thứ 20.

Tại Hoa Kỳ, trong suốt thời Cách mạng Kỹ nghệ, phần lớn ngành y khoa còn lạc hậu so với Âu châu. Hệ thống y tế vẫn dùng lối truyền thống với nhiều khuynh hướng phản khoa học và bịp bợm (td. Snake Oil Medicine). Cho đến đầu thế kỷ thứ 20, y khoa thực nghiệm chỉ có ở một vài trung tâm y học lớn như Johns Hopkins và 4-5 nơi khác mà thôi. Phần lớn các trường y chỉ là trường dạy nghề và thiếu tiêu chuẩn khoa học để khảo cứu tiến bộ, cho đến khi một nhà giáo dục, Tiến sĩ Flexner, viết một tường trình quan trọng về sự thiếu thống nhất và chất lượng thấp trong y học của nước Mỹ. TS Flexner kêu gọi nâng cao trình độ y học ở Mỹ với sự thống nhất chất lượng theo y khoa thực nghiệm và loại bỏ các trường thiếu tiêu chuẩn khoa học, nhất là các trường đào tạo lang băm bịp bợm. Từ đó, Y khoa Mỹ từ từ bắt kịp Y khoa Âu châu và cuối cùng, sau Thế Chiến thứ 2, đã vượt trội hẳn Âu châu cho đến ngày nay.

Khuyết điểm của y khoa thực nghiệm:

Y khoa thực nghiệm là một khoa học tinh vi với nhiều phương tiện ngày càng tối tân giúp định bệnh chính xác và giúp bác sĩ hiểu rõ bệnh lý của chứng bệnh. Từ sự hiểu biết đó, bác sĩ chọn phương pháp chữa trị hợp lý nhất được khoa học chứng tỏ là hiệu quả để chữa cho bệnh nhân. Vì vậy, bệnh nhân có cùng một chứng bệnh sẽ được chữa trị giống nhau theo đúng sách vở, mặc dù trên thực tế, bác sĩ không thể biết trước ai sẽ lành bệnh và ai sẽ không thuyên giảm, hoặc tệ hơn: ai sẽ có phản ứng xấu với thuốc men trị liệu. Một ví dụ cụ thể xảy ra hằng ngày tại phòng mạch ở Mỹ: bệnh nhân nhiễm trùng đường tiểu được cho thuốc kháng sinh có chất sulfa cách thoải mái mà không để ý người bệnh đó có thể là da đen gốc Phi châu. Điều này nguy hiểm cho bệnh nhân da đen gốc Phi châu. Lý do: Khoa học đã cho biết 10% chủng tộc ấy bị thiếu diếu tố Glucose-6-Phosphate Dehydrogenase (G6PD), mà thuốc có chất sulfa sẽ làm huỷ hoại hồng huyết cầu trên bệnh nhân thiếu diếu tố G6PD. Tổ tiên của họ vì bị bệnh sốt rét hành hạ nên đã đột biến di truyền hồng huyết cầu sinh hoá để đời sau bớt chết vì ký sinh trùng sốt rét, từ đó diếu tố G6PD bị giảm thiểu.

Tổ tiên người Việt cũng điêu đứng vì sốt rét nên có lẽ cũng chịu sự đột biến gen như người da đen gốc Phi châu. Và nhiều bệnh nhân gốc Việt ở Mỹ ngày nay cũng được cấp thuốc có chất sulfa khi họ bị nhiễm trùng. Có lẽ vì vậy nên không ít đồng bào vẫn thỉnh thoảng than phiền là thuốc Tây “nóng” chăng! Một thí dụ nữa là nhiều di dân Việt bị nhiễm lao phổi, thường là tiềm ẩn (latent TB infection), nhưng vẫn phải uống thuốc isoniazid (INH) trong 9 tháng theo qui định của Cơ quan Kiểm soát Dịch tễ Hoa Kỳ (CDC) để tránh truyền nhiễm về sau. Tuy nhiên, ít bác sĩ để ý là đa số người Việt (và Hoa) có di truyền biến chất acetylate trên thuốc INH rất nhanh, nên thường cần liều lượng cao hơn bệnh nhân da trắng. Trong khi đó, người da trắng có nhóm không phân hoá được gốc methyl từ thuốc, nên khi họ uống codeine (methyl morphine) để chống đau thì sẽ không thấy công hiệu, vì họ sẽ không cô lập được morphine từ codeine. Trong vài năm tới, Khoa Hệ Gen học, Dược khoa Trị liệu và Y khoa Ứng hợp Cá nhân sẽ biến các thí dụ trên thành dĩ vãng xa xôi.

Quan trọng hơn nữa là bất chấp tất cả các tiến bộ khoa học vượt bực của y khoa thực nghiệm trong hai thế kỷ qua, ung thư vẫn còn bị xem là chứng nan y với nhiều tử vong. Mặc dù việc định bệnh của các loại ung thư đã trở nên rất chính xác theo mô học (pathology), cách chữa trị vẫn còn quá thô sơ và thô bạo bao gồm giải phẫu cắt bỏ, xạ trị hoặc hoá trị. Bệnh nhân bị hành hạ khủng khiếp vì xẻo cắt, rụng tóc, đau đớn do các cách điều trị tàn nhẫn mà không biết có thoát khỏi thần chết hay không. Đại đa số bệnh nhân ung thư trên 75 tuổi sẽ không được chữa tận tình, vì ở tuổi cao, họ sẽ không chịu đựng được các biến chứng của các phương pháp chữa trị. Khi khoa học bó tay thì lang băm lộng hành với các quảng cáo bịp bợm để làm tiền, hay các mách thuốc ngây ngô trên diễn đàn mạng (internet) khuyên ăn cái này, uống cái kia sẽ trị dứt ung thư. Vì sợ ung thư, người ta còn là nạn nhân của các hù doạ vô căn cứ như vào xe hơi mới phải mở cửa, xuống kính…, hay buồn cười hơn nữa là nhất định không ăn cánh gà để tránh ung thư tử cung?! Chuyện dài này kể suốt ngày cũng không hết!

Hai mẩu tin ở đầu bài này là tiếng gà gáy và tia sáng bình minh của cuộc cách mạng y khoa đầu thế kỷ thứ 21: Từ y khoa thực nghiệm sang Khoa Hệ Gen học và Y khoa Ứng hợp Cá nhân. Như đã thấy, 2/3 nguyên nhân của ung thư là do rủi ro từ tế bào gốc đột biến, ngoài tầm kiểm soát của bệnh nhân. Môi trường và độc tố chỉ có ảnh hưởng khoảng 25 - 30% trên ung thư (dùng thuốc lá vẫn là yếu tố môi trường lớn nhất hiện nay). Di truyền chỉ tác động trên 5 - 7% ung thư.

Tìm cho ra (giải mã: sequence) và phân tích (analysis) hệ gen của một tế bào ung thư của bệnh nhân, rồi đem so sánh, đối chiếu với các hệ gen ung thư trong kho dữ liệu, có thể cho thấy một cách chính xác sự đột biến bệnh lý của bướu, và giúp tìm ra đúng loại thuốc chữa trị, nên một bà cụ 90 tuổi vẫn được chữa lành ung thư và lấy lại được sức khoẻ!

Yếu tố cần thiết để Khoa Hệ Gen học và Y khoa Ứng hợp Cá nhân có thể áp dụng hằng ngày tại phòng mạch bác sĩ:

Sau khi chương trình giải mã hệ gen của loài người (sequence search and analysis of human genome) được hoàn tất từ hơn mười năm trước, Khoa Hệ Gen học đã phát triển rất nhanh tại Hoa Kỳ. Đó là nhờ kỹ thuật điện toán tối tân với tốc độ cực nhanh, là những yếu tố rất quan trọng không thể thiếu. Kỹ thuật giải mã hệ gen của Khoa Hệ Gen học tiến rất nhanh, đồng bộ với tiến độ của máy siêu vi tính: Với tốc độ máy vi tính tăng gấp đôi mỗi sáu tháng trong hai năm vừa qua, kỹ thuật giải mã hệ gen vẫn không vì thế mà mất độ chính xác. Nhờ vậy nên tổn phí cũng giảm xuống từ hơn 5000 đô la cho việc giải mã một hệ gen của một khách hàng cách đây bốn năm xuống còn dưới 1000 đô cho mỗi người trong năm 2014.

Các viện khảo cứu ung thư làm việc cật lực và phát hiện nhiều đột biến bất thường trong gen của nhiều chứng ung thư, tích luỹ chúng trong một kho dữ liệu (data base) khổng lồ, và mỗi ngày vẫn phải bổ túc với các khám phá mới. Hiện nay, người ta giữ hệ gen của một người khoẻ mạnh trong máy siêu vi tính; và đến khi cần, bác sĩ có thể dùng kho dữ liệu về ung thư để tham khảo, tra cứu, từ đó sẽ biết là người này có thể nhuốm loại ung thư nào trong tương lai hầu tìm cách ngăn ngừa. Hiện nay, việc tham khảo và tra cứu này tốn vài trăm đô la. Tuy nhiên, khi kỹ thuật thêm tiến bộ và với số người sử dụng dịch vụ này gia tăng, giá thành sẽ xuống. Thực tế cho thấy, đã từng có người nhuốm ung thư, như bà cụ 90 tuổi kể trên, việc đem gen trong bướu của người bệnh ra so sánh, đối chiếu với các hệ gen trong kho dữ liệu ung thư là một việc làm hết sức cần thiết và hữu ích, qua đó bác sĩ sẽ tìm ra loại đột biến gây ung thư; và nếu may mắn, kiếm được đúng thứ thuốc để chữa trị cho lành hẳn.

Trong chuyên khoa săn sóc trẻ sơ sinh (khoa sơ sinh học, neonatology) hiện nay, máu cuống rốn của các em mới sinh nên được cất giữ để bảo tồn tế bào gốc. Trong tương lai gần, khi bảo hiểm y tế chịu thanh toán y phí, hệ gen của các em sẽ được giải mã và giữ trong hồ sơ vi tính để dùng trong phòng ngừa, và nếu cần, chữa trị các bệnh về sau.

Những người mắc bệnh mãn tính như tiểu đường (diabetes mellitus), bệnh tim mạch (cardiovascular disease), ung thư (cancer), nếu có hệ gen được giải mã sẵn và tồn trữ trong hệ thống siêu vi tính, với Y khoa Ứng hợp Cá nhân phát huy từ việc sử dụng kho dữ liệu, họ sẽ được chăm sóc tốt hơn nhờ chương trình phòng ngừa hiệu quả. Một khi nhuốm bệnh cấp tính như nhiễm trùng cần thuốc kháng sinh thì bác sĩ sẽ biết ngay thuốc nào không hợp, có thể gây biến chứng nguy hiểm, để tránh dùng. Các dược sĩ phát thuốc các loại cũng sẽ biết để chỉ dẫn chính xác và dùng liều lượng thích hợp cho bệnh nhân căn cứ vào dữ liệu từ máy vi tính để đề phòng phản ứng thuốc trước khi họ phải hứng chịu hậu quả.

Hiện nay các trường y khoa lớn ở Hoa Kỳ đã có bộ môn học về hệ gen và y khoa ứng hợp cá nhân để khảo cứu, dạy sinh viên, và săn sóc bệnh nhân, nhất là bệnh nhân ung thư.Trong 5 hay 10 năm tới, kỹ thuật của Khoa Hệ Gen học gắn liền với siêu vi tính sẽ càng phát triển nhanh chóng và thực dụng. Phí tổn sẽ hạ xuống dần, và các hãng bảo hiểm y tế sẽ thấy là thà chịu một phí tổn ban đầu khoảng dưới 1000 đô la để giải mã hệ gen cho mỗi bệnh nhân còn hơn là phải chi phí nhiều gấp bội về sau này cho suốt đời người đó nếu như cứ dùng cách điều trị ít hiệu quả với hệ thống y khoa thực nghiệm ngày nay.

(Viết xong đầu tháng Giêng năm 2015, sửa chữa ngày 6 tháng Tư năm 2016)



Sunday, April 3, 2016

DANH XƯNG NỮ TU CÔNG GIÁO TRONG TIẾNG VIỆT



Đề nghị về danh xưng để gọi các nữ tu 
trong hệ thống Giáo hội Công giáo Việt Nam

Bác Sĩ Lê Văn Thu

Các danh xưng hiện đang được sử dụng bởi người Việt Nam trong và ngoài nước cùng các tiếng tương đương trong các ngoại ngữ liên hệ:
-        Nữ tu sĩ, nữ tu (Latin: monialis, Anh ngữ: nun, feminine of religieux, Pháp ngữ: religieuse);
-        Chị, bà xơ, sơ, sister, sœur (Ý ngữ: soror, Anh ngữ: religious sister, Pháp ngữ: sœur religieuse);
-        Dì, dì phước (Anh ngữ: sister of charity – Pháp ngữ: sœur de charité);
-        Mẹ, Mẹ Bề Trên (Anh ngữ: Mother, Mother Superior – Pháp ngữ: Mère Supérieure).
Ở đây, người viết không dám đề cập đến nguồn gốc (từ nguyên) và khía cạnh ngôn ngữ học của các từ này (vì không đủ trình độ), mà chỉ nêu lên những suy nghĩ cá nhân và đưa ra vài đề nghị để sử dụng các từ này sao cho phù hợp với sự giao tiếp hàng ngày giữa các nữ tu Công giáo cùng những người chung quanh.
Trong Công giáo, hai từ nữ tu sĩ (nun) và chị (sister) thường được hiểu giống nhau, đồng nghĩa. Thế nhưng, đôi khi người ta lại muốn phân biệt rõ ràng giữa hai từ đó: nữ tu sĩ là người có cuộc sống ẩn dật khép kín trong các tu viện để suy niệm và cầu nguyện cho sự cứu vớt các linh hồn tha nhân, trong khi chị thì lại sống cuộc sống dấn thân - vào đời - để cầu nguyện và phục vụ cho người nghèo, đau ốm hoặc kém may mắn tại các nhà thương, trường học, viện mồ côi, viện tế bần, phong cùi, hay tư gia, v.v..
Ở các giáo xứ và cộng đồng đức tin, các chị phụ giúp các linh mục chính xứ/quản xứ trong các công tác mục vụ, phụng vụ, dạy giáo lý, v.v..
Không biết từ nguyên do nào, các giáo hội Thiên Chúa giáo đã gọi các nữ tu sĩ là chị (religious sisters). Theo định nghĩa của từ điển Merriam Webster, ngoài các nghĩa thông thường được dùng trong cuộc sống hằng ngày, từ Sister (viết hoa) được dành cho các nữ tu của hệ thống Thiên Chúa giáo, hay là y tá/y tá trưởng trong tiếng Anh gốc (British English). Tại Việt Nam, từ Sœur - được phiên âm là Xơ, và ghép với chữ Bà, để chỉ nữ tu sĩ Công giáo – đã được du nhập vào Việt Nam từ lúc các thừa sai Âu châu qua Việt Nam giảng đạo. Nó đã trở thành một từ chuyên biệt để gọi các nữ tu Công giáo: từ bà xơ đã gắn liền với từ dì phước (sister of charity – sœur de charité) và đã trở thành các từ rất phổ biến trong dân gian. Vì sao lại gọi là phước? Vì cuộc sống các chị gắn liền với công việc làm phước. Vì sao gọi là dì? Đối với tình cảm người Việt, tiếng dì gắn liền với một hình ảnh rất thân thương trong họ: em của mẹ. Sểnh mẹ bú vú dì (nếu lỡ chẳng may mẹ mất thì dì nuôi). Gọi các nữ tu là dì để biểu tỏ sự kính trọng, tương đương với việc gọi các linh mục là cha. Cha và chú thuộc bên nội, mẹ và dì thuộc bên ngoại. Như vậy, trong Giáo hội Việt Nam, nói cho vui, chúng ta có cả nội lẫn ngoại.
Dù xuất xứ từ đâu đi nữa, chỉ nội việc nhìn người nữ tu Công giáo tận tụy bên giường bệnh săn sóc người đau yếu với chức nghiệp của người y tá và với tình yêu thương đùm bọc của người chị, ta cũng đã thấy cái từ chị đã được gắn liền một cách thân thương với bộ áo dòng mà các chị mang. Cũng thế, khi nhìn thấy các chị chăm sóc đàn trẻ trong các viện mồ côi, các bệnh nhân phong cùi trong các trung tâm bị người đời xa lánh, ta cũng đủ thấy cái sự hy sinh cao quí mà chỉ có được ở những người chị, người mẹ. Có lẽ vì thế mà Hội Thánh đã ban tước hiệu cao quí “Chị” cho các nữ tu.
Tại quốc ngoại, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, nơi có nhiều nữ tu Công giáo Việt Nam phục vụ trong các giáo xứ hay cộng đồng đức tin Việt Nam, chúng tôi thấy xuất hiện chữ soeur hay Soeur trước tên của các nữ tu Công giáo (thí dụ: Soeur Hồng, Soeur Theresa, các soeur Dòng Đa-Minh, v.v.). Điều này thấy “dị dị” làm sao ấy! Soeur (đúng ra phải viết là Sœur) là tiếng Pháp, Hồng là tiếng Việt, Theresa là tiếng Anh (tiếng Pháp là Thérèse), được viết trên các bản tin, thư từ trong các giáo xứ hay cộng đồng đức tin Việt Nam ở Hoa Kỳ, nơi mà người dùng tiếng Anh phải viết và hiểu là Sister hay sister! Đa số giáo dân Việt Nam, nhất là thanh thiếu niên, chưa hề tiếp xúc với tiếng Pháp, đâu biết nghĩa của chữ soeur đó, và phải đọc như thế nào. Mà cách viết đó thì không những sai về ghép vần (chính ra, phải viết là sœur - chữ o và e phải được viết sát nhau thành œ, chữ này được gọi là e dans l’o – e in the o), lại thiếu chỉnh tề trong ngôn ngữ (lai căng giữa Pháp và Việt, hoặc giữa Pháp và Anh).
Vì thế, chúng tôi đề nghị không nên viết soeur trong các văn kiện, bản tin, báo chí Việt ngữ, dù ở trong hay ngoài nước, vì chữ ấy hình như không có trong bất cứ một từ điển nào trên thế giới (có chăng chỉ ở trên internet do không đánh máy hai con chữ o và e liền vào nhau thành œ được).
Còn việc dùng từ chị thì sao? Hình như các nữ tu Việt Nam mình không muốn được gọi là chị, một từ mà người Âu Mỹ dùng rất tự nhiên khi xưng hô với các nữ tu: Sister Theresa, Sœur Thérèse. Lý do: đối với phong tục của người Âu Mỹ, họ không có thói quen gọi nhau, hay gọi những người trong thân tộc, bằng các từ bác, chú, cậu, dì, anh, chị, em. Tất cả, dù lớn, dù bé, đều gọi nhau bằng tên. Cháu nhỏ 10 tuổi gọi ông cụ, bà cô già 70 tuổi cũng chỉ bằng cái tên cộc lốc: Joe, Michelle. Nên khi họ gọi hay nói chuyện với các nữ tu bằng từ sister hay sœur thì rõ ràng là họ đang xưng hô với các nữ tu trong ý nghĩa đầy đủ của nó. Còn trong phong hóa Việt Nam, khi xưng hô với nhau, thế nào cũng phải dùng các từ ông, bà, cô, chú, anh, chị đi kèm với cái tên thì mới lịch sự: ông Ba, chị Tư, anh Năm. Nên chi, khi xưng hô với các nữ tu mà dùng từ chị thì có vẻ không được trân trọng vì nó lẫn với cách xưng hô ngoài đời hay trong gia đình, thân tộc (thí dụ: với từ Chị Vân, người ta nghĩ chúng ta đang nói về một người phụ nữ nào đó có tên Vân). Ngoài ra, cái từ chị đó, trong ngôn ngữ Việt Nam, cũng không nói lên được thiên chức của các nữ tu, cái thiên chức mà để có được, các nữ tu sĩ đã phải hy sinh rất nhiều, từ danh vọng, sự giàu có, đến duyên tình lứa đôi, để sống cuộc đời tận hiến cho Chúa Kitô, cho Giáo hội, và cho tha nhân. Với các từ “bà xơ”, “dì phước”, hay “sơ”, tự nó đã nói lên được cái công việc mà các nữ tu đang làm, cái chức vị trong xã hội hay Giáo hội mà các nữ tu đang nắm giữ (thí dụ: cũng với tên Vân, mà viết là Sơ Vân, thì ai cũng hiểu đó là nữ tu Công giáo tên Vân).
Tóm lại, chúng tôi mạo muội đề nghị hệ thống hóa các danh xưng cho các nữ tu Công giáo Việt Nam với các từ sau đây:
Sơ. Chữ “xơ” là chữ mà người Việt xưa đã dùng để phiên âm từ chữ sœur của tiếng Pháp. Chúng tôi đề nghị phiên âm chữ sœur thành “sơ” (s thay vì x), vì các lý do:
- âm s trong chữ sơ của tiếng Việt (sơ là tiếng mượn) tương đương với âm s trong tiếng Anh (sister) hay Pháp (sœur). Nó không quá mạnh như âm sh của tiếng Anh, mà cũng không quá nhẹ như âm x của tiếng Việt; có nghĩa là âm s của tiếng Việt được phát âm hơi mạnh hơn x và nhẹ hơn sh. Như vậy, khi phát âm từ sœur trong tiếng Pháp qua xơ trong tiếng Việt thì nó có phần bị “lạc giọng”.
- từ sơ, gốc Hán Việt, có nghĩa là khởi đầu (nhân chi sơ tính bản thiện); nghĩa và âm phát ra của từ sơ có vẻ thanh lịch hơn từ xơ dưới đây.
- từ xơ, gốc thuần túy Việt Nam (không có trong từ điển Hán Việt), có nghĩa là phần dai lẫn trong một số củ, quả hay vỏ (xơ củ xu hào già, xơ mít, xơ mướp) hay vật gì đã bị mòn cũ, rách te tua (quần xơ gấu). Có lẽ, các sơ Việt Nam mình không thích cái ý nghĩa này lắm!
- chữ xơ, đứng một mình - với nghĩa là nữ tu sĩ - không có trong từ điển Việt Nam; từ điển Việt Nam chỉ có từ bà xơ. Từ bà xơ này chỉ là một danh từ chung để người đời nói hay viết về các nữ tu Công giáo, không thể được dùng để xưng hô giữa các nữ tu và giáo dân hay người đời, và cũng không dùng để viết hay gọi như một tước hiệu hoặc chức vị được. Giáo dân mà xưng hô với một sơ trẻ bằng từ bà xơ thì tội nghiệp cho sơ đó, mà sơ tự xưng chức vị mình là bà xơ thì lại mang tiếng tự tôn.
Để gọi, nói hay viết về các nữ tu sĩ nói chung, chúng tôi đề nghị dùng từ sơ (thí dụ: các sơ Dòng Mến Thánh Giá – s thường). Chúng ta sẽ dùng từ Sơ (S hoa) khi muốn gọi, viết hoặc nói về một sơ mà ta biết rõ, vì đây là một tước hiệu hay chức vị (thí dụ: Sơ Maria). Ngoài ra, chúng tôi đề nghị không nên viết tắt là Sr. khi đứng trước một tên Việt Nam (Sr. là được rút từ tiếng Anh Sister hay tiếng Pháp Sœur) trong các văn kiện, bản tin tiếng Việt, vì nó không chỉnh (Anh Việt hay Pháp Việt lẫn lộn); vả lại, chữ Sơ cũng đã quá đủ ngắn để không cần phải viết tắt (thay vì viết Sr. Têrêsa, ta viết là Sơ Têrêsa).
Khi tiếp xúc với giáo dân hay người đời, nhỏ hay lớn tuổi hơn mình, mà các nữ tu tự xưng là sơ thì không ai trách được cả, vì chữ sơ mang cả hai nghĩa: chị (thân mật) và em (khiêm nhường).
Dì và Dì Phước. Từ dì này rất hay vì nó mang một biểu tượng đáng kính trong thứ bậc họ hàng (ngang hàng với mẹ mình). Khi giáo dân hay người đời gọi hay nói chuyện trực tiếp với các nữ tu, nhất là các vị đã đứng tuổi, thì có thể kêu họ là dì. Khi viết thì có thể thêm chữ phước cho rõ nghĩa (thí dụ: các dì phước Hội Dòng Mến Thánh Giá Gò Vấp, Dì Têrêsa).
Các nữ tu, đặc biệt là các nữ tu đã đứng tuổi, cũng có thể tự xưng mình là dì khi viết cho hay nói chuyện với những người trẻ hơn mà không mất đi tính khiêm nhường của mình.
Mẹ và Mẹ Bề Trên. Từ mẹ thường được người đời hay các nữ tu trẻ gọi hay viết cho các nữ tu sáng lập các tu hội (thí dụ: Mẹ Têrêsa Calcutta); từ mẹ bề trên được dùng cho các vị lãnh đạo các nhà dòng và tu hội (thí dụ: Mẹ Bề Trên Dòng Đa-Minh Việt Nam). Các nữ tu mang trọng trách cao cả này - thường đã lớn tuổi - tự xưng là mẹ khi tiếp xúc với những người trẻ hoặc các nữ tu đệ tử của mình là điều thật hợp lý và chính đáng.

(Khởi sự viết ngày 15 tháng 3 năm 2012, hiệu đính lần 2 ngày 5 tháng 5 năm 2012, và lần chót ngày 3 tháng Tư năm 2016 nhân Mùa Phục Sinh. Đề nghị các giáo xứ Việt Nam tại Hoa Kỳ không nên dùng chữ soeur hay sœur trên mọi văn kiện, thư từ, báo chí và bảng hiệu vì nó không chỉnh và hợp lý chút nào).

Phụ chú: Để viết được con chữ œ trên máy vi tính, ta ấn các nút Ctrl + Shift + & cùng một lúc, xong bỏ các ngón tay ra, rồi đánh ngay vào nút có chữ o; hoặc vào insert, nhấn chuột trái, vào Symbol, rồi chọn œ.

Tham khảo: Nun (Wikipedia); Xơ (Từ điển mở wiktionary); Nữ Tu (Bách Khoa Toàn Thư Mở - Wikipedia); Nun - bà xơ (hoctuxa.net, Mẹ Teresa (Bách Khoa Toàn Thư Mở - Wikipedia). Sister (merriam-webster.com); Sister (Từ Điển Anh Việt - Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam - 1993); xơ (Việt Nam Tự Điển - Lê Văn Đức - 1970); bà xơ (Từ điển từ và ngữ Việt Nam - Nguyễn Lân - 1998); sơ, xơ, bà xơ (Từ Điển Tiếng Việt - Vietlex – 2010, từ điển tiếng Việt Hoàng Phê - 2010); sơ (Hán Việt Từ Điển – Đào Duy Anh); xơ và sister (Từ Điển Thông Dụng Việt-Anh Anh-Việt - Nguyễn Văn Khôn - 1967); Năm linh mục: thăm viếng các cha và các xơ hưu dưỡng (VietCatholic News - Trọng Phương - 10/26/2009).